Ask doctor free







Abstract disease Viêm não Nhật Bản

Các tên gọi khác của bệnh này:

  • Viêm não mùa hè
  • Viêm não B
  • Encephalitis Japonica

Bệnh viêm não Nhật Bản do vi-rút thuộc nhóm Flavi, họ arbovirus nhóm B gây ra, lây nhiễm vào não qua vết muỗi đốt (muỗi Culex). Bệnh được phát hiện lần đầu tiên tại Nhật Bản với biểu hiện viêm não – màng não tuỷ với tỉ lệ mắc và tử vong rất cao. Bệnh xảy ra chủ yếu ở các nước châu Á.Hiện có vắc-xin chống lại căn bệnh này.

Triệu chứng

Triệu chứng bắt đầu từ 5-15 ngày sau khi bị muỗi đốt, bao gồm: sốt, nhức đầu, cứng cổ, nhầm lẫn, run, co giật và yếu cơ. Một số trường hợp nghiêm trọng có thể bị hôn mê và tử vong.

Chẩn đoán

  • Hỏi bệnh sử và khám thực thể.
  • Quét CT và chụp cộng hưởng từ (MRI). Xét nghiệm máu tìm kháng thể (IgM) chống lại vi-rút.
  • Xét nghiệm dịch não tủy.
  • Xét nghiệm công thức máu toàn bộ (CBC), bảng chuyển hóa toàn diện (CMP).

Điều trị

Không có điều trị đặc hiệu, chủ yếu là điều trị triệu chứng. Bệnh nhân nên uống nhiều nước, dùng Acetaminophen, steroid chống viêm (ibuprofen) hoặc Aspirin để hạ sốt. Trẻ em không nên dùng aspirin vì nguy cơ mắc hội chứng Reye. Cần nhập viện điều trị ngay lập tức nếu bệnh nhân bị ói mửa liên tục, đau đầu dữ dội, co giật, nhầm lẫn, suy nhược, hoặc các triệu chứng nghiêm trọng khác.

Disease overview Viêm não Nhật Bản

  • Bệnh viêm não Nhật Bản (VNNB) là bệnh nhiễm nhiễm vi rút cấp tính làm tổn thương hệ thần kinh trung ương, thường gặp ở trẻ em dưới 15 tuổi.
  • Bệnh được phát hiện lần đầu tiên tại Nhật Bản khi gây dịch ở nước này với số người mắc và tử vong rất cao. Năm 1935 các nhà khoa học Nhật Bản đã tìm ra căn nguyên gây bệnh là một loại vi rút được đặt tên là vi rút Viêm não Nhật Bản và từ đó tên bệnh cũng được gọi là viêm não Nhật Bản.
  • Bệnh VNNB không lây trực tiếp từ người sang người. Bệnh được truyền sang người qua muỗi đốt. Muỗi hút máu động bị vật nhiễm vi rút (thường là từ lợn) rồi từ đó lại đốt người và truyền bệnh cho người.
  • Bệnh có tỉ lệ tử vong là 20%, di chứng có thể gây liệt và làm tổn thương não.

Cure

Chống phù nề não

  • Truyền các dịch ưu trương để làm tăng áp lực thẩm thấu, rút nước ở tổ chức tế bào và khoang gian bào vào lòng mạch. Truyền tĩnh mạch dung dịch Glucoza 10%, 20%, 30%. Glucoza chỉ gây giảm áp lực ở khoang não tuỷ trong một thời gian ngắn (không quá 35 - 40 phút). Do vậy, nếu không xen kẽ sử dụng các dịch lợi niệu khác thì sẽ gây hiện tượng 'tái phù' trở lại của tổ chức tế bào nặng hơn trước.
  • Các thuốc lợi tiểu: Làm giảm phù mạnh hơn và thời gian kéo dài trong 2-10 giờ. Có thể truyền Manitol 20% liều từ 1-2 g/kg thể trọng, truyền với tốc độ lớn (có thể cho chảy thành dòng).
  • Trong những trường hợp phù não nặng có co giật thì dùng Corticoid để giúp bình thường hoá sự thẩm thấu của mạch máu chống lại sự tích luỹ nước và muối ở tổ chức não.
  • Tốt hơn cả là dùng Dexamethason là loại Glucocorticoid tổng hợp tác dụng chậm và hiệu quả hằng định. Dexamethason phát huy tác dụng chống phù nề não sau 12-18 giờ. Liều dùng 10mg tiêm tĩnh mạch, sau cứ 5 giờ lại tiêm 4mg bắp thịt.

An thần cắt cơn giật

  • Seduxen có thể cho qua sonde hoặc tiêm bắp thịt và tĩnh mạch.
  • Có thể dùng dung dịch liệt hạch truyền tĩnh mạch nhỏ giọt: Aminazin + Thiantan + Spartein (liều lượng Aminazin 3-7 mg/1kg thể trọng/24 giờ).
  • Nếu bệnh nhân có co giật nhiều thì dùng Gardenal.

Hạ nhiệt

  • Cởi quần áo cho bệnh nhân, chườm đá vào bẹn, nách, cổ... quạt, xoa cồn long não. Có thể dùng các thuốc hạ nhiệt bằng đường uống qua sonde hoặc thụt giữ qua trực tràng...
  • Aspirin 0,25 - 1g/24 giờ. Tốt nhất dùng efferalgan dung dịch (5 ml/lần, 2-3 lần/24 giờ), hoặc đạn efferalgan (1-2 đạn/24 giờ, khi sốt cao).

Hồi sức hô hấp và tim mạch

  • Thở ôxy, lau hút đờm rãi, sẵn sàng hô hấp viện trợ khi rối loạn nhịp thở nặng hoặc ngừng thở.
  • Bổ sung nước điện giải kịp thời theo Hematocrit và điện giải đồ. Dùng thuốc trợ tim mạch ouabain, spartein, khi cần thiết có thể dùng các thuốc vận mạch như aramin, noradrenalin, dopamin.

Ngăn ngừa bội nhiễm và dinh dưỡng, chống loét

  • Dùng kháng sinh phổ rộng như Ampixilin hoặc Cephalosporine thế hệ 3 tuỳ theo trọng lượng cơ thể.
  • Thường xuyên lau rửa da, vệ sinh răng miệng, đặt vòi đái, dùng đệm cao su bơm hơi để vào các điểm tỳ hoặc nằm đệm nước và thường xuyên thay đổi tư thế cho bệnh nhân.
  • Chế độ dinh dưỡng cho bệnh nhân phải đảm bảo đủ đạm và các vitamin, cho ăn qua sonde 4 lần/ngày.

Questions related to the disease Viêm não Nhật Bản