Ask doctor free







Abstract disease Dị ứng thực phẩm

Dị ứng thức ăn là phản ứng từ hệ thống miễn dịch của cơ thể với chất dị ứng nào đó có chứa trong thực phẩm. Các triệu chứng có thể khác nhau từ nhẹ (ngứa, buồn nôn) đến nặng (sưng cổ họng, khó thở). Dị ứng thức ăn thường xảy ra trong vòng 30 phút sau khi ăn nhưng cũng có thể xảy ra muộn nhất là 4-6 giờ sau khi ăn. Bất kỳ loại thực phẩm nào cũng có thể gây ra phản ứng dị ứng nhưng số loại thực phẩm có nhiều khả năng gây ra các phản ứng hơn (đậu phộng, trứng, đậu nành, các loại sò, lúa mì, sữa).

Triệu chứng

Các triệu chứng có thể khác nhau tùy thuộc vào mức độ nghiêm trọng của dị ứng.

Chẩn đoán

Triệu chứng nhẹ: Phát ban, Buồn nôn, Nôn mửa, Tiêu chảy, Nổi mề đay.

Điều trị

Triệu chứng nghiêm trọng: Sưng tấy xung quanh mặt và miệng, Khó nuốt, Khó thở, Sốc phản vệ.

Disease overview Dị ứng thực phẩm

Nguyên nhân do các dị nguyên glycoprotein. Các glycoprotein này tan được trong nước, có khả năng bền vững với nhiệt (khi chế biến) với acid, không bị phân hủy bởi protease.

Thức ăn hay gây dị ứng là sữa bò, trứng, lạc, vừng, đậu nành, lúa mỳ, hạt quả cứng, kiwi, táo, cà rốt, cá, nghêu, sò, tôm, cua... Mỗi độ tuổi hay bị dị ứng với một loại thức ăn nhất định, có thể kéo dài nhưng cũng có thể khỏi ở một độ tuổi nào đó.

Dị ứng có thể xảy ra với trẻ từ 1-7 tuổi với hạt cứng, 6-36 tháng tuổi với hạt mè, tuổi trưởng thành với nghêu sò, tôm, cua, cá và dai dẳng. Trong khi đó, trẻ em 6 - 24 tháng tuổi thường bị dị ứng lòng trắng trứng gà, sữa bò, lúa mỳ, đậu nành; đa phần sẽ khỏi lần lượt theo các thực phẩm này ở độ tuổi 7, 5, 2, 5.

Dị ứng thức ăn còn lưu hành theo từng địa phương. Nếu dị ứng trứng gà, sữa bò gặp hầu hết trên thế giới, thì dị ứng mù tạt hay gặp ở Pháp, hạt vừng lại thường gặp ở Israel, dị ứng cá hay gặp ở các nước ăn nhiều cá ngừ trong đó có nước ta.

Cure

Phương pháp điều trị:

Dùng thuốc nhằm hủy các triệu chứng dị ứng, quan trọng nhất là chống các phản ứng phản vệ. Thường dùng 4 loại thuốc: Epiephrin, kháng Histamin, chống co thắt phế quản, Corticoid hít hay toàn thân.

  • Epinephrin:

    Có vai trò nâng cao huyết áp, chống suy tim trụy mạch cấp.

    Phải dùng sớm: tiêm bắp nhanh trong vòng ít phút sau khi phản ứng dị ứng xảy ra. Dùng muộn dễ dẫn đến gia tăng dạng phản ứng phản vệ 2 pha, gia tăng tỷ lệ tử vong (theo Lee J.M., 2000). Nếu phản ứng phản vệ nặng, cần phải dùng tại bệnh viện và theo dõi chặt chẽ. Với những người bệnh dị ứng thức ăn đến bệnh viện với triệu chứng suy hô hấp, hạ huyết áp, bất tỉnh, cần dùng ngay, càng sớm càng tốt trong vòng 8 giờ, vì đây cũng là thời gian thường xảy ra pha 2 (pha muộn) của phản ứng phản vệ đồng thời phải theo dõi liên tục trong 24 giờ (theo Ellis A.K., 2007).

  • Kháng Histamin

    Dùng các kháng Histamin có tác dụng nhanh để loại bỏ nhanh các triệu chứng dị ứng. Có thể dùng kháng Histamin thế hệ cũ (chlopheniramin, alimerazin, cycloheptadin, meclizin, cyclizin). Với trẻ em không được dùng prometazin (cấm dùng cho trẻ em 2 tuổi, trẻ trên 2 tuổi chỉ dùng liều thấp nhất có hiệu quả). Thuốc làm trẻ suy hô hấp khi ngủ dẫn đến tử vong đột ngột, đặc biệt không dùng cho trẻ đang bị mất dịch vì gây hội chứng Reye. Lưu ý: thuốc kháng Histamin thế hệ cũ gây ngủ gà, làm gia tăng tác dụng của các thuốc trầm cảm, làm suy hệ thần kinh trung ương, khi tiêm với liều cao có thể gây tụt huyết áp. Có thể dùng các kháng histamin thế hệ mới (cetirizin, acrivastin, loratidin). Không được dùng các kháng Histamin thế hệ mới terfenadin và astemizol vì hai thuốc này gây hiện tượng xoắn đỉnh đã bị nhiều nước cấm. Các thuốc cetirizin, acrivastin, loratidin tuy chưa tìm thấy bằng chứng gây xoắn đỉnh nhưng cũng nên dùng cẩn thận. Không dùng cho trẻ em dưới 2 tuổi; riêng loratidin, ceritidin không dùng cho trẻ em dưới 6 tuổi, thận trọng khi dùng cho người có chức năng gan thận suy giảm.

  • Thuốc chống co thắt phế quản

    Đa phần người dị ứng thức ăn, đặc biệt ở người có bệnh hen thường bị hen, phù thanh quản: Thông thường phải dùng thuốc kích thích thụ thể beta-2 (chủ vận beta-2) dạng hít (như salbutamol, salmeterol), có kết hợp với corticoid hít (như beclomethazon, fluticazon) hoặc có thể dùng loại ống hít phối hợp hai chất này (seretide). Nếu người bệnh có biểu hiện khó thở nặng, cần cho thở ôxy.

  • Coticoid hít hay toàn thân

    Corticoid được dùng để giảm cơn co thắt (dạng hít, như nói trên) dùng phòng phản ứng phản vệ muộn (dạng uống). Corticoid (đặc biệt là corticoid uống) có nơi đưa vào thường quy xử trí dị ứng thức ăn nhưng có nơi không coi là điều bắt buộc.

Questions related to the disease Dị ứng thực phẩm