Bệnh chi tiết



Tóm tắt bệnh Viêm da mụn mủ truyền nhiễm

Các tên gọi khác của bệnh này:

  • Pyodermites
  • Chốc

Bệnh viêm da mụn mủ truyền nhiễm (bệnh chốc) là bệnh da thường gặp do nhiễm vi khuẩn liên cầu (liên cầu khuẩn). Bệnh có tính lây lan, nhất là đối với trẻ em, có thể lây lan thành dịch ở trong gia đình hoặc trong trường học. Bệnh chốc có thể xảy ra quanh năm nhưng phổ biến nhất vào mùa hè. Bệnh thường gặp ở trẻ nhỏ < 10 tuổi.

Triệu chứng

Xuất hiện mụn nước, bọng nước có mủ ở da đầu, xung quanh hốc tự nhiên (mắt, mũi, miệng...), chân tay hoặc rải rác khắp người, ngứa, sốt, mệt mỏi, sưng hạch.

Chẩn đoán

  • Hỏi bệnh sử và khám thực thể.

  • Lấy dịch ở bọng nước làm xét nghiệm tìm vi khuẩn.

Điều trị

Sử dụng kháng sinh đường uống tác động vào nhóm vi khuẩn Gr (+) như Oxacillin, Cloxacillin hoặc kháng sinh nhóm Cephalosporin thế hệ 1-2 như Cephalexin.

Các thuốc bôi tại chỗ: thuốc sát khuẩn tại chỗ như dung dịch thuốc màu Milian, Castellani có tác dụng diệt khuẩn, làm khô tổn thương; thuốc mỡ có kháng sinh hoặc chất diệt khuẩn như mỡ Gentamycin, Neomycin, Mupirocin, Acid Fusidic; thuốc mỡ hoặc cream có chứa cả kháng sinh và Corticoid nhẹ và vừa như Fucidin H, Fucicort, Neocortef cũng có thể dùng trong giai đoạn viêm nhiều.

Ngoài thuốc bôi tại chỗ còn có thể sử dụng thuốc tím pha loãng 1/10.000 để ngâm vùng tổn thương và tắm. Các loại Lotion hoặc gel làm sạch da và giữ ẩm cho da như Cetaphil, Lactacid, Eucerin… tắm cũng giúp da sạch sẽ, tránh khô da. Chú ý không dùng tay để làm dập vỡ mụn nước, mụn mủ, không cạy vảy da.

Để phòng bệnh cần vệ sinh sạch sẽ, giữ da khô, thoáng, rửa tay hằng ngày sạch sẽ bằng xà phòng, cắt ngắn móng tay, tránh cào gãi trầy xước. Bôi thuốc kháng sinh, diệt khuẩn vào các nốt trầy xước, côn trùng cắn đốt.

Tổng quan bệnh Viêm da mụn mủ truyền nhiễm

Bệnh viêm da mụn mủ truyền nhiễm (bệnh chốc) là bệnh da thường gặp do nhiễm vi khuẩn liên cầu (liên cầu khuẩn). Bệnh có tính lây lan, nhất là đối với trẻ em, có thể lây lan thành dịch ở trong gia đình hoặc trong trường học. Bệnh chốc có thể xảy ra quanh năm nhưng phổ biến nhất vào mùa hè. Bệnh thường gặp ở trẻ nhỏ < 10 tuổi.

Các thông tin y học thế giới cho rằng bệnh chốc xuất hiện ở khắp nơi, mọi vùng lãnh thổ trên thế giới. Những địa phương có trình độ dân trí thấp, điều kiện vệ sinh kém thì tỷ lệ bệnh chốc cao. Ở Việt Nam, chưa có tài liệu nói tỷ lệ lưu hành bệnh chốc.

Các biến chứng có thể xảy ra do bị chốc có thể là viêm hạch bạch huyết biến thành áp xe. Nếu chốc lan rộng có thể biến chứng viêm cầu thận, nhiễm khuẩn huyết.

Biểu hiện ban đầu là dát đỏ, sau xuất hiện bọng nước to bằng hạt đỗ, hạt ngô hoặc lớn hơn chứa chất dịch lúc đầu màu vàng trong, về sau rất nhanh chóng trở thành đục và hóa mủ. Bọng nước vỡ ra và đóng vảy tiết màu vàng. Khi cạy vảy, ở dưới là một vết trợt nông, tròn đều đặn, màu đỏ hồng. Xung quanh vảy tiết màu vàng thường có một viền vảy mỏng. Các bọng nước liên kết lại thành mảng, vỡ ra đóng vảy tiết, giới hạn rất rõ, hơi lõm ở giữa. Vảy tiết sẽ bong đi và da trở lại bình thường.

Vị trí thường bị chốc thường là: mặt, hai bên má, xung quanh các lỗ tự nhiên, da đầu và ở tay chân. Các phần khác của cơ thể ít gặp hơn. Ở trẻ em, do gãi, vi khuẩn từ chỗ này lây lan sang chỗ khác làm cho bệnh lan ra khắp cơ thể. Thường gặp các tổn thương kết hợp do liên cầu khuẩn như: nứt mép, viêm sau kẽ tai, kẽ mũi má... Có bọng nước rất to, có khi bọng nước rất bé giống như hạt kê. Có trường hợp loét sâu xuống (chốc loét) thường xuất hiện ở chi dưới trên bệnh nhân suy dinh dưỡng và do độc lực của vi khuẩn gây bệnh mạnh.

Điều trị bệnh

1. Sử dụng kháng sinh

Dùng đường toàn thân tác động vào nhóm vi khuẩn Gr (+) như Oxacillin, Cloxacillin hoặc kháng sinh nhóm Cephalosporin thế hệ 1-2 như Cephalexin. Sử dụng các thuốc kháng sinh trên cần lưu ý một số điểm sau:

  • Nên cho người bệnh uống trước khi ăn 1 giờ vì thuốc hấp thu tốt khi đói

  • Một số tác dụng phụ có thể gặp: Dị ứng hơn khi đói, sốt, nổi ban đỏ, ngứa. Có thể gây buồn nôn, nôn, tiêu chảy

  • Trong quá trình dùng thuốc cần chú ý các tương tác thuốc sau: Với thuốc tránh thai có thể làm giảm tác dụng thuốc tránh thai. Thuốc nhóm Tetracycllin làm giảm hiệu lực của Oxacillin, vì vậy không dùng cùng với các thuốc nhóm này.

  • Cloxacillin cũng là kháng sinh thuộc nhóm Penicillin kháng Penicillinase, là kháng sinh diệt khuẩn, đặc biệt  tụ cầu, kể cả tụ cầu tiết Penicillinase. Thuốc chống chỉ định đối với trẻ sơ sinh, người suy thận nặng. Thận trọng với người suy gan, phụ nữ có thai và cho con bú, bệnh nhân dị ứng với Cephalosporin. Không dùng thuốc chung với Amiloglycosid, Probenecid. Lưu ý các tác dụng có hại như: mày đay, dị ứng, sốt, đau khớp, phù mạch, tổn thương thận, tiêu chảy, viêm tĩnh mạch huyết khối tại chỗ. Dùng thuốc trước khi ăn 1 giờ hoặc sau ăn 2 giờ.

  • Các thuốc khác thuộc nhóm Cephalosporin thế hệ I, II cũng có hiệu quả điều trị tụ cầu và vi khuẩn gram (+) nên có thể dùng điều trị chốc.

  • Cephalexin thuộc nhóm Cephalosporin thế hệ 1, có tác dụng diệt khuẩn bằng cách ức chế tổng hợp vỏ tế bào vi khuẩn. Khi dùng thuốc này cần chú ý với người suy thận, thuốc gây tác dụng không mong muốn là rối loạn tiêu hóa, đau bụng, buồn nôn, dị ứng, mày đay, viêm gan, viêm thận kẽ, vàng da ứ mật. Không nên kết hợp với các thuốc độc với thận như kháng sinh nhóm Aminiglycosid, thuốc lợi tiểu mạnh.

2. Các thuốc bôi tại chỗ

  • Thuốc sát khuẩn tại chỗ:

    • Dùng dung dịch thuốc màu: Milian, Castellani có tác dụng diệt khuẩn, làm khô tổn thương. Đối với người lớn thường dùng Castellani, trẻ em dùng Milian vì Castellani có thể gây kích ứng và cảm giác rát. Dung dịch màu sát khuẩn thường dùng đối với tổn thương chốc ở giai đoạn đầu lúc mới có mụn nước, bọng nước hoặc mới trợt vỡ. Bôi thuốc ngày 1-2 lần. Thuốc có tác dụng diệt khuẩn tốt, làm khô tổn thương nhanh nhưng nhược điểm là để lại màu xanh hoặc đỏ trên da.

  • Thuốc mỡ có kháng sinh hoặc chất diệt khuẩn như: Mỡ Gentamycin, Neomycin, Mupirocin, Acid Fusidic. Khi dùng thuốc này cần chú ý, bôi thuốc 1-2 lần trong ngày với lượng vừa đủ phủ kín tổn thương. Nên dùng mỡ có Mupirocin với bệnh chốc do tụ cầu kháng Methicillin. Không nên dùng thuốc mỡ cho các tổn thương trợt ướt, chảy dịch nhiều mà nên dùng thuốc dạng dung dịch bôi đến khi nào tổn thương khô thì dùng thuốc mỡ. Thuốc mỡ hoặc cream có chứa cả kháng sinh và Corticoid nhẹ và vừa như: Fucidin H, Fucicort, Neocortef, cũng có thể dùng trong giai đoạn viêm nhiều. Tuy nhiên, cần thận trọng tác dụng phụ của Corticoid gây teo da, giãn mạch… vì vậy không dùng diện rộng, vị trí da mỏng, nhiều nếp gấp và không dùng kéo dài.

  • Ngoài thuốc bôi tại chỗ còn có thể sử dụng thuốc tím pha loãng 1/10.000 để ngâm vùng tổn thương và tắm. Thuốc tím vừa có tác dụng diệt khuẩn lại có tác dụng làm khô các tổn thương trợt da, chảy dịch. Ngâm rửa tại chỗ ngày 1-2 lần. Các loại Lotion hoặc gel làm sạch da và giữ ẩm cho da như Cetaphil, Lactacid, Eucerin… tắm cũng giúp da sạch sẽ, tránh khô da.

Cần chú ý, bệnh nhân không dùng tay để làm dập vỡ mụn nước, mụn mủ, không cạy vảy da. Để phòng bệnh cần vệ sinh sạch sẽ, giữ cho da khô, thoáng, rửa tay hằng ngày sạch sẽ bằng xà phòng, cắt ngắn móng tay, tránh cào gãi trầy xước. Bôi thuốc kháng sinh, diệt khuẩn vào các nốt trầy xước, côn trùng cắn đốt.

Các câu hỏi liên quan bệnh Viêm da mụn mủ truyền nhiễm